Lưu trữ của tác giả: admin

XÂY DỰNG MÔ HÌNH SỐ BỀ MẶT VÀ BẢN ĐỒ TRỰC ẢNH SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ ĐO ẢNH MÁY BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI (UAV) PHẦN 1


1. GIỚI THIỆU
Hiện tại các công nghệ sử dụng máy toàn đạc điện tử và định vị vệ tinh (GNSS) đang được sử dụng rộng rãi trong thu thập dữ liệu mặt đất phục vụ cho công tác địa chính, trắc địa địa hình, xây dựng dân dụng và thiết kế kiến trúc, do độ chính xác cao, dưới 5 cm [1]. Nhược điểm chính của hai công nghệ trên là giá thành cao và tiêu tốn thời gian tương đối lớn. Thêm nữa, hai công nghệ trên có thể khó thực hiện đối với khu vực đo vẽ có địa hình phức tạp, hoặc khi điều kiện Tóm tắt: Trên thế giới thành lập bản đồ bằng công nghệ đo ảnh máy bay không người lái (UAV) và máy ảnh thông thường đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong ngành trắc địa- bản đồ, tuy nhiên công nghệ này vẫn là tương đối mới ở Việt Nam.

Mục đích chính của bài báo này là trình bày quy trình công nghệ sử dụng ảnh máy bay không người lái, xây dựng các sản phẩm bản đồ (mô hình số bề mặt, mô hình số độ cao, bản đồ trực ảnh, bản đồ 3D). Nội dung cụ thể bao gồm: (1) Quy trình thiết kế bay chụp, tính toán độ cao máy bay, số đường bay, số ảnh chụp và tổng thời gian bay chụp; (2) Các phần mềm mã nguồn mở và phần mềm thương mại có thể sử dụng cho công tác xử lý ảnh thu nhận; (3) Công tác thiết kế điểm khống chế mặt đất phục vụ cho công tác bay chụp; (4) Thực nghiệm bay chụp với máy bay Phantom 3 Profressional trang bị máy ảnh 3 kênh RGB Sony EXMOR; (5) Đánh giá độ chính xác, các kết luận về ưu nhược điểm của công nghệ và một số giải pháp nâng cao độ chính xác.

Từ khóa: Công nghệ UAV,mô hình số bề mặt, bản đồ trực ảnh Hội nghị Khoa học: Đo đạc Bản đồ với ứng phó biến đổi khí hậu môi trường khu đo gây nguy hiểm cho sức khỏe. Do vậy, công nghệ quét Laser mặt đất (Terrestrial Laser Scanning -TLS) và công nghệ bay quét LiDAR (Light Detection and Ranging) được phát triển, sử dụng thay thế cho hai công nghệ đã nêu bên trên [2]. Điểm thuận lợi của công nghệ TLS là việc sử dụng và vận hành không phức tạp, phù hợp cho các dự án có diện tích vừa và nhỏ. Về lý thuyết, khoảng cách quét có thể lên đến 6000 m [3]. Đối với các dự án đòi hỏi độ chính xác cao, độ chính xác của điểm được quét có thể đạt đến 2 mm (ví dụ cho máy Trimble TX5 Laser Scanning với khoảng cách quét dưới 120 m).

Do vậy công nghệ TLS được sử dụng tương đối rộng rãi hiện nay tại Nauy và các nước Tây Âu. Nhược điểm của công nghệ TLS đó là, có thể không thích hợp với các dự án có diện tích lớn có địa hình phức tạp, do phải di chuyển nhiều trạm máy quét trên bề mặt địa hình. Do các hạn chế của ba công nghệ nêu trên, công nghệ bay quét LiDAR (sau đây gọi tắt là công nghệ LiDAR) được phát triển như một công nghệ thay thế cho các công nghệ trên. Điểm bất lợi hiện tại của LiDAR là giá thành trang thiết bị cao (thấp nhất khoảng 60,000 USD). Thực tế, trong công tác đo đạc bản đồ, yếu tố giá thành sản phẩm đóng vai trò rất quan trọng trong việc lựa chọn công nghệ sử dụng. Do đó, việc thúc đẩy phát triển và ứng dụng các công nghệ mới với giá thành thấp hơn là hết sức cấp thiết. Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ định vị vệ tinh, công nghệ máy bay không người lái (Unmanned Aerial Vehicles-UAV), các thuật toán tự động xử lý ảnh, khôi phục mô hình 3 chiều (Structure-from-Motion, SfM), giá thành trang thiết bị cho công nghệ đo vẽ sử dụng UAV đã giảm xuống rất mạnh.

Khảo sát của chúng tôi cho thấy công nghệ này đang được ứng dụng thành công và rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như công tác đo đạc thành lập bản đồ [2, 4, 5], giao thông [6], sản xuất nông nghiệp [7, 8], nghiên cứu địa chất [9], và nghiên cứu môi trường [6, 10]. Ngoài việc giá thành tương đối thấp, công nghệ UAV với các máy ảnh phổ thông dễ dàng thu nhận các ảnh số với độ phân giải rất cao (mm, cm), trong điều kiện địa hình phức tạp, môi trường nguy hiểm. Thêm nữa, các phần mềm mã nguồn mở và phần mềm thương mại đều tích hợp các thuật toán SfM, cho phép gần như hoàn toàn tự động xử lý ảnh, xây dựng các sản phẩm bản đồ (mô hình số bề mặt, mô hình số độ cao, bản đồ trực ảnh, bản đồ 3D, video). Người sử dụng công nghệ này không nhất thiết phải có kiến thức quá sâu về công nghệ đo ảnh truyền thống.

Chính vì thế công nghệ UAV đang rất hứa hẹn được ứng dụng rộng rãi hơn nữa vào các lĩnh vực khác nhau. Điểm cần bổ sung hiện nay của công nghệ này, là quy trình tính toán, công nghệ thiết kế bay chụp UAV sao cho đạt được độ chính xác mong muốn của các sản phẩm bản đồ, cho từng mục đích cụ thể. Mục đích chính của bài báo này là trình bày quy trình công nghệ thiết kế bay chụp, đo ảnh UAV phục vụ thành lập các sản phẩm bản đồ như mô hình số bề mặt, mô hình số độ cao, bản đồ trực ảnh, bản đồ 3D. Các nội dung chính bao gồm: (1) Quy trình thiết kế bay chụp, tính toán độ cao máy bay, số đường bay, số ảnh chụp và tổng thời gian bay chụp; (2) Các phần mềm mã nguồn mở và phần mềm thương mại có thể sử dụng cho công tác xử lý ảnh thu nhận, thành lập các sản phẩm bản đồ khác nhau; (3) Công tác thiết kế, xác định kích thước điểm khống chế mặt đất phục vụ cho công tác bay chụp; (4)

Thực nghiệm bay chụp với máy bay Phantom 3 Profressional, trang bị máy ảnh 3 kênh RGB Sony EXMOR, tại khu vực trường Đại học Đông Nam Nauy tại Bø i Telemark; (5) Cuối cùng, công tác đánh giá độ chính xác, các kết luận về ưu nhược điểm của công nghệ, và thảo luận một số giải pháp nâng cao độ chính xác.
Bài viết được tài trợ bởi Đại học NAUY
Nguồn www.researchgate.net

XÂY DỰNG MÔ HÌNH SỐ BỀ MẶT VÀ BẢN ĐỒ TRỰC ẢNH SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ ĐO ẢNH MÁY BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI (UAV) PHẦN 4


5. BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN

Bài báo trình bày chi tiết quy trình sử dụng thiết bị máy bay không người lái (UAV) để chụp ảnh mặt đất, thành lập các sản phầm bản đồ (mô hình số bề mặt, bản đồ trực ảnh, bản đồ 3D). Thực nghiệm tiến hành trên khu đo tương đối nhỏ 168 x 156 m tại khuôn viên trường Đại học Đông Nam Nauy, sử dụng Phantom 3 Professional UAV với máy ảnh thông thường Sony EXMOR. Tính toán thiết kế thông số bay chụp trên phần mềm Microsoft Excel 2013, và chuyển tham số vào phần mềm quản lý điều khiển bay Pix4Dcapture được cài đặt trên máy tính bảng iPad. Từ nghiên cứu này, có thể rút ra một số điểm chính như sau: (i) Công nghệ UAV rõ ràng có ưu điểm là giá thành sản phẩm thấp (khoảng 1000 USD cho Drone Phantom 3 profesonal và camera), thời gian ra sản phẩm nhanh, quá trình xử lý ảnh thành lập bản đồ không phức tạp, và phần lớn tự động, hạn chế các sai sót do can thiệp của con người.

Công nghệ này phù hợp cho vùng địa hình khó tiếp cận hoặc khu vực có môi trường nguy hiểm. Trong thực nghiệm này, tổng thời gian bay chỉ khoảng 10 phút, và khoảng 15-phút để thiết lập, đo đạc điểm khống chế ảnh mặt đất. (ii) Độ chính xác của bản đồ thành lập từ công nghệ UAV là thấp hơn so với các phương pháp đo đạc truyền thống, như phương pháp đo đạc bằng máy toàn đạc điện tử hoặc bằng công nghệ đo GPS. Độ chính xác về độ cao tương đương với công nghệ bay quét LiDAR, nhưng thấp hơn so với phương pháp sử dụng máy quét Laser mặt đất [2]. Uysal, Toprak [4] đã chỉ ra rằng sai số trung phương về độ cao (RMSE) cho mô hình số độ cao từ công nghệ UAV khoảng 6.62 cm. Thực nghiệm từ nghiên cứu này cho thấy RMSE =10.76 cm. Thực tế, RMSE bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố [19]: (i) thông số của máy ảnh sử dụng; (ii) mật độ và phân bố của điểm khống chế mặt đất; và (iii) tính chất địa hình của khu đo. Tuy nhiên nghiên cứu này được tiến hành trên khu đo nhỏ, nên thông số (i) và (ii) là nguyên nhân chính quyết định trị số RMSE.

Liên quan đến mật độ và phân bố điểm khống chế mặt đất, Gómez-Candón, López-Granados [20] dùng 80 điểm/ 80 ha và kết luận rằng, việc tăng số lượng điểm khống chế mặt đất sẽ giúp tăng độ chính xác sản phẩm bản đồ. Tuy nhiên Gómez-Candón, De Castro [21] chỉ ra việc tăng số điểm khống chế không nhất thiết sẽ tăng được độ chính xác bản đồ (họ dùng 45 điểm/ha). Do vậy, bao nhiêu điểm khống chế là tối ưu cho 1 khu đo vẫn là câu hỏi cần nghiên cứu thêm. Phân tích phân bố sai số qua 03 điểm kiểm tra độc lập trong thực nghiệm này cho thấy, sai số tại điểm FM14 là thấp, nhưng tại hai điểm FM8 và FM18 lại cao. Đó là bởi vì các điểm GPS1, GPS5, và GPS3 dùng cho đăng lý tọa độ ảnh có sai số độ cao lớn (từ 5-6 cm) so với các điểm GPS khác.

Nguyên nhân là vì các điểm này nằm gần khối nhà, nên việc nhận tín hiệu vệ tinh và số cải chính từ trạm base nhà nước bị ảnh hưởng. Cần lưu ý là các điểm GPS đo bằng phương pháp RTK CPOS (đã giải thích ở mục 4.2). Do vậy sai số mô hình tại khu vực quanh các điểm này lớn các khu vực khác. (iii) Độ chính xác mặt bằng của bản đồ được lập từ công nghệ UAV bị ảnh hưởng bởi độ phân giải điểm ảnh, do vậy, có thể điều chỉnh độ cao bay chụp (xem công thức 1) để tăng độ phân giải ảnh, giúp tăng độ chính xác bản đồ. Độ cao bay chụp không ảnh hưởng nhiều đến độ chính xác độ cao [21]. Thông thường, độ chính xác mặt bằng có thể đạt được cao nhất khoảng 1-2 lần kích cỡ điểm ảnh, trong khi là 1-3 lần kích cỡ điểm ảnh cho độ chính xác về độ cao. (iv) Độ chính xác bản đồ còn phụ thuộc vào phần mềm và thuật toán xử lý ảnh được sử dụng. Sona, Pinto [12] sau khi so sánh độ chính xác của các bản đồ được xử lý với các phần mềm ảnh khác nhau, đã kết luận rằng, phần mềm Agisoft PhotoScan cho độ chính xác cao nhất, khoảng 1.1 lần độ phân giải điểm ảnh, với cả mặt bằng và độ cao. Trong khi phần mềm EyeDEA cho độ chính xác thấp nhất, khoảng 2.2 lần độ phân giải điểm ảnh cho mặt bằng, và 4.3 lần độ phân giải điểm ảnh với độ cao. Như vậy, cần xem xét cân nhắc khi lựa chọn phần mềm xử lý ảnh. (v) Điểm hạn chế của công nghệ UAV là thời gian bay bị giới hạn tùy thuộc vào từng loại UAV (đối với Phantom 3 Professional, thời gian bay dài nhất về lý thuyết là 23 phút).

Do vậy, đối với các dự án có diện tích lớn, phải chia thành nhiều phần nhỏ để tiến hành bay chụp. Do quy định điều kiện bay hiện tại của Nauy, các UAV chỉ được phép bay trong khu vực người điều khiển theo dõi được (Line of Sight, LOS), xấp xỉ khoảng 3 km2 từ điểm trung tâm [2]. Do đó nhất thiết phải chia nhỏ khu đo, nếu diện tích bay chụp quá lớn. (v) Cuối cùng, điểm hạn chế lớn và quan trọng khác của công nghệ UAV là mô hình số địa hình (DTM) xây dựng từ ảnh chụp từ UAV có thể có sai số lớn, hoặc rất lớn, khi khu vực bay chụp có mật độ thực phủ cao, bởi vậy trong trường hợp này, công nghệ bay quét LiDAR nên được xem xét. Ngoài ra các yếu tố thời tiết như tốc độ gió và mưa cũng ảnh hưởng lớn đến quá trình bay chụp.
Bài viết được tài trợ bởi Đại học NAUY
Nguồn www.researchgate.net

XÂY DỰNG MÔ HÌNH SỐ BỀ MẶT VÀ BẢN ĐỒ TRỰC ẢNH SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ ĐO ẢNH MÁY BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI (UAV) PHẦN 3


4. PHẦN THỰC NGHIỆM
Phần thực nghiệm được tiến hành trên Phantom 3 Professional UAV trang bị máy ảnh Sony EXMOR. Khu vực bay chụp là khuôn viên Đại học Đông Nam Nauy (59o24’30’’Bắc, 0o03’33’’Đông). Khu vực này được chọn là bởi có sẵn một số điểm khống chế trắc địa, phục vụ cho việc đánh giá độ chính xác. Độ rộng của khu đo là 168 x 156 m và độ cao so với mực nước biển là 78 m (được đo từ Google Earth). Để thuận lợi trong khôi phục mô hình 3 chiều từ ảnh, độ phủ dọc và độ phủ ngang của ảnh được chọn là 80%. Theo quy định hiện hành của Nauy đối với các UAV có trọng lượng nhỏ hơn 2.5 kg, độ cao cao nhất được phép bay là 120 m so với mặt đất. Tốc độ tối đa được phép bay là 30 m/s. Các UAV chỉ được phép bay trong tầm mắt còn nhìn thấy được. Do điểu kiện thời tiết, chúng tôi chọn thời gian bay là 12 h trưa. Hình 2. Phantom 3 Professional UAV và máy ảnh Sony EXMOR (chụp bởi Bùi Tiến Diệu tháng 5/2016)

4.1 Các thông số chính của Phantom 3 Professional UAV và máy ảnh Sony EXMOR Phantom 3 Professional là UAV nhỏ có tổng trọng lượng 1.28 kg, chiều cao là 185 mm và rộng của UAV và 289 mm (Hình 2). Với 04 mô tô điện, UAV có khả năng cất và hạ cánh thẳng đứng, ngoài ra UAV được tích hợp cả công nghệ GPS (Global Positioning System) and GLONASS (Global Navigation Satellite system). Theo đó vị trí và hướng bay được quản lý và điều chỉnh thông qua hệ thông Inertial Measuring Unit (IMU) và các cảm biến khí áp (barometric sensor). UAV được điều khiển thông qua hệ thống Radio Control (RC), các thông tin về tình trạng pin, tín hiệu GNSS (GPS and GLONASS), độ cao UAV và góc quay của máy ảnh được cập nhật về trạm điều khiển. Về mặt lý thuyết, tổng thời gian bay dài nhất của Phantom 3 Professional là 23 phút, tốc độ bay lớn nhất đạt được là 16m/s, chịu được sức cản của gió cao nhất là 20 m/s, và về lý thuyết có thể hoạt động trong điều kiện nhiệt độ từ 0o đến 40o[16]. Các thông tin chi tiết khác Phantom 3 Professional UAV có thể xem trong Dji [17]. UAV được tích hợp máy ảnh phổ thông Sony EXMOR gồm 03 kênh Red, Green và Blue. Tiêu cự của máy ảnh là 3.61 mm với khẩu độ là f/2.8 và góc nhìn (field-of-view, FOV) 94o. Kích cỡ của cảm biến chụp là 6.30 x 4.72 mm, tương ứng với kích cỡ ảnh chụp là 4000 x 3000 pixels. Máy ảnh tích hợp sẵn Micro-SD cạc với dung lượng 16 GB và sử dụng định dạng FAT32/exFAT. Các ảnh chụp lưu trữ dưới dạng số, sử dụng chuẩn nén JPEG và DNG.
4.2 Thiết kế và đo đạc tọa độ các điểm khống chế mặt đất Vì các sản phẩm bản đồ từ công nghệ UAV cần thể hiện trong hệ tọa độ quy chiếu quốc gia (hệ quy chiếu EUREF89 tại Nauy), công tác chuyển đổi tọa độ là bắt buộc. Công tác này có thể thực hiện thông qua hai phương pháp: (i) chuyển đổi trực tiếp dựa trên tham số máy ảnh và tọa độ GPS của UAV và (ii) dựa vào các điểm khống chế mặt đất GPS, được cung cấp cho phần mềm xử lý ảnh. Turner, Lucieer [18] chỉ ra rằng, phương pháp thứ hai cho độ chính xác cao hơn, do đó được lựa chọn cho thực nghiệm này. Hình 3. Kích cỡ điểm khống chế mặt đất phục vụ công tác bay chụp bằng công nghệ UAV

Vì các điểm khống chế mặt đất được thể hiện thành các pixel trên ảnh khi chụp từ UAV, kích thước của điểm khống chế này phải đủ lớn để có thể đọc được trên ảnh. Tuy nhiên nếu kích cỡ quá lớn sẽ gây khó khăn khi xác định tọa độ tâm của điểm. Theo Morgan and Falkner [11], tùy theo tỷ lệ ảnh, kích thước của điểm khống chế ảnh mặt đất có thể tính theo công thức sau: W M*0.002;L 10*W (5) Với W là độ rộng, còn L là độ dài của điểm khống chế ảnh; M là mẫu số tỷ lệ ảnh (Hình 3) Trong thực nghiệm này, đã thiết lập tổng số 06 điểm khống chế. Các điểm này được đo bằng phương pháp đo GNSS động (Real Time Kinematic GSNN) sử dụng máy Topcon HiPer GNSS (sau đây gọi tắt là Topcon). Máy Topcon được coi là trạm đo động (Rover) được kết nối với các trạm Base (đã được nhà nước thiết lập sẵn) trên toàn quốc (Nauy) thông qua gói cung cấp dịch vụ có tên CPOS từ Cục bản đồ Nauy (StatensKartverk). Độ chính xác trung bình cho các điểm khống chế GPS nói trên là khoảng 2-3 cm cho mặt bằng và khoảng 5 cm cho độ cao. Phân bố của các điểm GPS được trình bày trong Hình 4b. Cần giải thích thêm là các trạm Base GNSS được thiết lập phủ trùm toàn quốc và được quản lý bởi Cục bản đồ Nauy (độc giả có thể xem thêm trong http://www.kartverket.no/en/Positioning/). Cục bản đồ Nauy cung cấp các gói dịch vụ định vị cho dân sự, theo thuê bao trả hàng năm có tên DPOS (độ chính xác decimet), CPOS ( độ chính xác centimet), và MPOS (độ chính xác mm). Một khi trạm đo động (Rover) được kết nối các gói dịch vụ, số cải chính theo thời gian thực về tọa độ được gửi trực tiếp về trạm Rover, giúp xác định độ chính xác điểm đo đến dm, cm, hoặc mm, tùy theo gói dịch vụ. Độ chính xác của sản phẩm bản đồ nên được đánh giá bằng các điểm không tham gia trong quá trình xử lý ảnh, vì thế 3 điểm khống chế độc lập (Fastmerke, FM) sẵn có trong khu đo được dùng cho công tác kiểm tra. Các điểm này nằm trong mạng lưới điểm khống chế trắc địa mặt bằng và độ cao sẵn có của khu vực. 4.3 Thiết kế và thực hiện quá trình bay chụp ảnh Quá trình thiết kế bay chụp được thực hiện trên phần mềm Microsoft Excel 2013, trên cơ sở các công thức ở mục 2 nói trên. Các tham số sau đó được nhập vào phần mềm thiết kế và quản lý bay Pix4Dcapture. Đây là phần mềm miễn phí, được chọn vì có thể cài đặt trên máy tính bảng, trên hệ điều hành iOS (với iPhone, iPad) và hệ điều hành Android OS (ví dụ Samsung Galaxy Tab). Nhược điểm chính của Pix4Dcapture là chỉ cho phép thiết kế tối đa 7 đường bay. Trong thực nghiệm này, Pix4Dcapture được cài trên iPad mini được sử dụng (Hình 2 và 4a).

Hình 4 (a) Sơ đồ đường bay cho khu vực nghiên cứu site; (b) Sơ đồ phân bố 6 điểm khống chế mặt đất GPS và 3 điểm kiểm tra FM Hình 5: (a) Ảnh chụp cho khu vực thực nghiệm; (b) Cơ sở dữ liệu điểm đám mây (3D point cloud) Các tham số khu đo được thiết kế như sau: Khu đo có kích cỡ là 168 m dài x 156 m rộng, độ phân giải điểm ảnh 2 cm, độ phủ dọc và ngang là 80%, độ cao bay chụp là 60 m so với mặt đất. Chế độ bay Safe Mode được chọn, giúp quá trình tự động cất cánh, chụp, và hạ cánh hoàn toàn tự động. Tổng số 05 đường bay (flight lines) được thực hiện với 45 ảnh (Hình 5a). Tổng dung lượng ảnh là 225 MB, 06 điểm GPS được sử dụng cho khống chế ảnh, 03 điểm độc lập (FM) dùng cho công tác kiểm tra (Bảng 2).

Hình 6: (a) Vị trí máy ảnh khi chụp, và độ phủ ảnh; (b) Phân bố sai số kiểm định máy ảnh Sony EXMOR Quá trình bay chụp được thực hiện trên chế độ bay an toàn (Safe mode), cho phép UAV tự động bay theo chương trình đã thiết kế, bao gồm tự động cất cánh, rồi bay đến điểm đầu tiên của giải bay, dừng lại và tiến hành chụp ảnh, sau đó tự động bay đến các điểm khác để chụp theo thiết kế đã được tính toán và đã nạp vào phần mềm. Một khi ảnh cuối cùng được chụp xong, UAV sẽ tự động bay về và hạ cánh tại điểm xuất phát. Trong quá trình bay chụp, các chỉ số hoạt động của UAV và máy ảnh liên tục được gửi về trạm điều khiển, tùy vào độ an toàn của UAV (ví dụ tình trạng năng lượng của pin, nguy cơ va chạm với vật thể, động vật trên không) người điều khiển có thể dừng quá trình bay tự động để UAV hạ cánh.

Khi quá trình bay chụp kết thúc, các ảnh được chuyển từ Micro-SD cạc của máy ảnh vào máy tính để xử lý bằng phần mềm Agisoft PhotoScan. Dựa trên tọa độ thông tin sơ bộ khi bay chụp, phần mềm sẽ sắp xếp các ảnh theo trình tự (Hình 5a và 6a). Tiếp theo, tổng số 168320 các điểm “khóa” (key point features hoặc tie points) trên các ảnh được tự động phát hiện. Cộng thêm 06 điểm GPS mặt đất, cơ sở dữ liệu điểm (3D point cloud) được xây dựng phục vụ cho quá trình khớp ảnh tự động (Hình 5b). Bước tiếp quá trình tự động xử lý tam giác ảnh không gian AAT (Automatic Aerial Triangulation) được tiến hành bao gồm các công đoạn xử lý : (i) Tính toán các tham số định hướng trong và ngoài dựa trên cơ sở dữ liệu điểm ở bước trên; (ii) Thực hiện bình sai khối theo phương pháp số bình phương nhỏ nhất (least squares block adjustment). Bước tiếp, quá trình nội suy (building mesh) được tiến hành để xây dựng mô hình số bề mặt (Hình 7a) và bản đồ trực ảnh (Hình 7b). 4.4 Đánh giá độ chính xác

Đánh giá độ chính xác của sản phẩm bản đồ là khâu rất quan trọng, thiếu công tác này, sản phẩm bản đồ không có ý nghĩa sử dụng, kết quả nghiên cứu sẽ không có ý nghĩa khoa học. Độ chính xác của bản đồ có thể được đánh giá trên cơ sở sử dụng công thức sau [11]: n2 2 2i map testi1RMSE E / n;E e ; e v v    (6) Với vmap tọa độ x, hoặc tọa độ y, hoặc tọa độ z trên bản đồ; vtest là tọa độ x, hoặc tọa độ y, hoặc tọa độ z tại các điểm khống chế; RMSElà sai số trung phương; n tổng số điểm kiểm tra. Bảng 2. Đánh giá độ chính xác mô hình số bề mặt khu vực thực nghiệm Tên điểm khống chế Độ cao đo bằng GPS (m) Cao độ mô hình số bề mặt (m) Sai số (cm) GPS1 72.317 72.387 -7.0 GPS3 71.883 71.954 -7.1 GPS4 74.474 74.465 0.9 GPS5 73.975 73.859 11.6 GPS8 76.82 76.786 3.4 GPS9 74.538 74.505 3.3 FM8 71.339 71.203 13.6 FM18 73.122 72.999 12.3 FM14 73.691 73.726 -3.5 Trong thực nghiệm này, chỉ sai số về cao độ được đánh giá. Chi tiết sai số 06 điểm khống chế mặt đất GPS và 3 điểm kiểm tra FM (Fastmerke) được trình bày trong Bảng 2. Theo công thức (6), sai số trung phương cho các điểm GPS, RMSE = 6.57 cm. Sai số trung phương cho các điểm kiểm tra độc lập FM, RMSE =10.76 cm.

Hình 7: (a) Mô hình số bề mặt khu vực thực nghiệm; (b) Bản đồ trực ảnh cho khu vực thực nghiệm
Bài viết được tài trợ bởi Đại học NAUY
Nguồn www.researchgate.net

XÂY DỰNG MÔ HÌNH SỐ BỀ MẶT VÀ BẢN ĐỒ TRỰC ẢNH SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ ĐO ẢNH MÁY BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI (UAV) PHẦN 2


2. QUY TRÌNH THIẾT KẾ BAY CHỤP
Ply cam

Công tác thiết kế bay chụp cơ bản bao gồm tính toán độ cao bay của UAV, xác định độ phủ dọc và độ phủ ngang của ảnh, thiết kế và tính toán số đường bay, ước tính tổng số ảnh cần chụp và tổng dung lượng ảnh, tính tốc độ chụp và tổng thời gian bay. Chi tiết giải thích công tác thiết kế bay chụp ảnh nói chung, bạn đọc có thể xem thêm trong tài liệu của Morgan and Falkner [11].
Các tham số cho công tác thiết kế bay chụp được xác định tùy thuộc vào diện tích bay chụp và độ chính xác của sản phẩm bản đồ. Sau đó, chúng được nhập vào phần mềm quản lý và thực hiện bay chụp như Pix4Dcapture, Mission Planner, Dji Ground Control Station, và UgCS. Thông tin đường dẫn để tải các phần mềm này được trình bày trong Bảng 1. 2.1 Thiết kế độ cao bay của UAV dựa trên kích cỡ điểm ảnh cho trước Vì kích cỡ của cảm biến thu nhận ảnh trong máy ảnh là cố định, do đó độ phân giải điểm ảnh (kích thước của pixel) bị chi phối bởi độ cao bay chụp.

Kích cỡ điểm ảnh ảnh hưởng đến độ chính xác của các sản phẩm bản đồ. Mối quan hệ giữa độ cao bay chụp và độ phân giải điểm ảnh [12] được thể hiện trong công thức (1) dưới đây: BCH (imW*GSD*FL)/(SSw*100) (1) Với BCHlà độ cao bay được thiết kế cho UAV (m); GSD (Ground Sample Distance) là kích cỡ điểm ảnh cần chụp (cm); imW (image width) là độ rộng của ảnh chụp tính bằng pixel; FL (focal length) là độ dài tiêu cự của máy ảnh; SSw (sensor width) là chiều rộng của cảm biến thu nhận ảnh của máy ảnh. Ví dụ: Nếu kích cỡ điểm ảnh thiết kế cho dự án là 3 cm. UAV sử dụng máy ảnh Sony EXMOR có FL là 3.6 mm, imW là 4000 pixel, SSw là 6.31 mm. Độ cao bay của UAV tính được là 68.46 m. 2.2 Tính tổng số đường bay của UAV Tổng số đường bay của UAV phụ thuộc vào độ phủ ngang của tấm ảnh và có thể tính toán dựa trên công thức sau [11]: FStrip WidthPr/[M*SSh*((100 Q%)/100)] (2)
Với Fstrip là tổng số đường bay cần tính; WidthPr là độ rộng của khu vực cần bay chụp; M là mẫu số của tỷ lệ ảnh (có thể tính bằng công thức FL/BCH); SSh (Sensor height) là chiều cao của cảm biến thu nhận ảnh của máy ảnh; Q là độ phủ ngang của tấm ảnh (%). Ví dụ: Khu đo có kích cỡ là 168 m dài x 156 m rộng; Độ phủ ngang của ảnh là 65%; SSh của máy ảnh Sony EXMOR là 4.72 mm; M là 19000, tổng số đường bay là 5 đường bay (làm tròn). 2.3 Tính tổng số ảnh cần chụp và tổng dung lượng ảnh số Tổng số ảnh cần chụp từ UAV phụ thuộc vào độ cao bay chụp (tỷ lệ ảnh) và độ phủ dọc, có thể tính toán bằng công thức sau[11]: TSA LengthPr/(M*SSw*[(100 P%)/100] (3) Với TSA là tổng số ảnh cần chụp của khu đo; M là mẫu số của tỷ lệ ảnh; SSw là chiều rộng của cảm biến trên máy ảnh; P là độ phủ dọc của tấm ảnh (%). Ví dụ: Độ dài của khu chụp là 168 m, P là 80%, SSw của máy ảnh Sony EXMOR là 6.30 mm, M là 19000, tổng số ảnh cho mỗi đường bay tính được là là 7 ảnh (làm tròn). Cộng thêm hai ảnh đầu và cuối của đường bay để phủ trùm khu bay chụp, tổng số ảnh là 9 ảnh x 5 đường bay sẽ là 45 ảnh. Tổng dung lượng ảnh là 45 ảnh x 5 Mb = 225 Mb (mỗi ảnh có dung lượng cho trước ≈ 5 Mb). 2.4.

Tính toán tốc độ chụp (shooting rate hoặc capture rate) Tốc độ chụp ảnh phụ thuộc vào vận tốc bay của UAV và có thể tính theo công thức sau đây: Chupv ((imH / imW*GSD) /100)*((100 P%)/100)/ v (4) Với Chupvlà tốc độ chụp ảnh; imH và imW là chiều cao và chiều rộng của tấm ảnh (tính theo đơn vị pixel); GSD là kích cỡ điểm ảnh; P là độ phủ dọc (%); v là vận tốc bay của UAV. Vì chiều cao và chiều rộng của cảm biến thu nhận ảnh trên máy ảnh là khác nhau, do vậy tốc độ chụp ảnh phụ thuộc vào việc máy ảnh đặt song song hay vuông góc với hướng bay (dễ dàng điều chỉnh), và do vậy, imH hay imW sẽ được chọn. Hình 1. (a) Máy ảnh đặt vuông góc với hướng bay; (b) máy ảnh đặt song song với hướng bay (ảnh trích từ nguồn Pix4D )

Ví dụ: Nếu máy ảnh Sony EXMOR đặt vuông góc với hướng bay, imH (3000 pixel ) được sử dụng; GSD là 3 cm, độ phủ dọc là 80%, tốc độ bay của UAV là 5m/s, tốc độ chụp tính được là 3.6s/ảnh.
Bài viết được tài trợ bởi Đại học NAUY
Nguồn www.researchgate.net

Giải pháp phân tích năng lượng cho công trình xanh


ScreenShot_20160927181717

Những năm gần đây, tình hình thời tiết, khí hậu trên thế giới đã có những biến đổi theo chiều hướng xấu cũng như phức tạp và rất khó dự đoán hơn trước. Các hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai như nước biển dâng cao, bão, lũ lụt, hạn hán… diễn ra thường xuyên cũng như gây thiệt hại nghiêm trọng hơn.

Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học công trình đã chỉ ra rằng sự vận hành các công trình xây dựng ngốn khoảng 1/3 tổng mức tiêu thụ năng lượng của con người chính là nguồn phát thải khí nhà kính lớn và tác động mạnh mẽ đến môi trường và hệ sinh thái.

so-do-1

 

Lượng khí thải CO2 của Việt Nam

Trước tình hình hiện tại, thách thức đặt ra cho các kiến trúc sư và Kỹ sư công trình là cần thay đổi tư duy thiết kế nhằm đạt hiệu quả năng lượng cao hơn,  giảm thiểu tác động bất lợi của công trình lên môi trường và hệ sinh thái.

Trào lưu kiến trúc xanh ra đời từ những năm 90 trên thế giới và những năm gần đây rất được chú trọng tại Việt Nam. Chúng ta cũng đã xây dựng thành công bộ công cụ đánh giá và cấp chứng chỉ công trình xanh LOTUS. Bộ công cụ này đáp ứng được hầu hết yêu cầu của thế giới nhưng lại quá khó thực hiện đối với các kiến trúc sư nước nhà. Số lượng kiến trúc sư hiểu rõ khái niệm công trình xanh là rất ít cũng như họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm thế nào để thiết kế một công trình đạt được chứng chỉ công trình xanh. Đây thực sự là một bài toán rất khó nếu như không có sự hỗ trợ của các phần mềm mô phỏng năng lượng trong quá trình thiết kế.

management_weighting_VN

 

Các mốc đánh giá chứng nhận của LOTUS

Công việc thiết kế kiến trúc ngày nay phải gắn liền với các ràng buộc với môi trường và phát triển bền vững và do đó phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu mới. Các công cụ mô phỏng hiệu năng công trình đã mở ra một kỷ nguyên mới trong khoa học thiết kế và đã trở thành công cụ hữu hiệu trong vòng 20 năm trở lại đây. Mô phỏng hiệu năng công trình không phải là một môn học thông thường mà là một ngành học, với nhiều kỹ năng phức tạp và cao cấp, giúp người thiết kế kiểm soát toàn diện tác phẩm của mình.

Với việc ứng dụng các công cụ khảo sát, phân tích và mô phỏng năng lượng, chúng ta hoàn toàn có thể xác định vị trí chính xác cũng như nắm được dữ liệu thời tiết của khu vực từ các trạm thời tiết địa phương.

ScreenShot_20160927162211

Định vị công trình và chọn trạm thời tiết địa phương gần nhất trong Revit

Sau quá trình tính toán, phần mềm sẽ cung cấp các số liệu phục vụ cho quá trình thiết kế và chỉnh sửa phương án như: dữ liệu thời tiết, hoa gió, nhiệt độ trung bình, độ ẩm……

Hoa gió

Dữ liệu về hoa gió bao gồm tốc độ và mật độ gió theo mùa và hằng năm

Nhiệt độ, độ ẩmDữ liệu về nhiệu độ, độ ẩm và thời tiết
Tiêu thụ năng lượng
 Dữ liệu về lượng năng lượng tiêu thụ của tòa nhà

Ngoài ra, với việc áp dụng mô phỏng năng lượng vào công trình, các kiến trúc sư sẽ có cái nhìn trực quan hơn về thiết kế của mình thông qua mô phòng bóng đổ, che chắn, độ rọi….. từ đó điều chỉnh thiết kế sao cho phù hợp với tiêu chuẩn yêu cầu.

Có thể xuất các video khảo sát bóng đổ và so sánh bóng đổ, hiệu quả che chắn giũa các khoảng thời gian trong năm

ScreenShot_20160927174439

Biểu kiến mặt trời theo mùa và cả năm (Hà Nội)

Đôi khi chúng ta vẫn mặc định rằng mặt trời di chuyển từ Đông sang Tây và phần mái phía Tây sẽ là phần hứng nhiều ánh sáng mặt trời nhất. Nhưng với kết quả phân tích trên, mặt mái phía Nam mới là diện nhận được nhiều ánh sáng mặt trời nhất, điều đó được giải thích thông qua biểu đồ biểu kiến mặt trời phía trên. Hầu hết các tháng trong năm mặt trời đều di chuyển chếch về phía Nam, phần mái phía Nam sẽ nhận được tia sáng chiếu tới theo hướng vuông góc, trong khi khí Tây chỉ nhận được tia sáng chiếu tới theo góc xiên. Kết quả sẽ được thể hiện chính xác thông qua biểu đồ phân tích tổng lượng bức xạ mặt trời nhận được trên mái dưới đây.

5

Khảo sát tổng lượng bức xạ mặt trời trên mái cả năm và theo mùa (Hà Nội)

Chúng ta cũng có thể tính toán chiếu sáng sao cho hiệu quả nhất với công cụ Lighting Analysis (Insight 360) và Render Illuminance (Revit)

ScreenShot_20160927181555

Kết quả phân tích chính xác về hiệu quả chiếu sáng tự nhiên ban ngày

Việc tính tính toán che chắn, bẫy gió cũng trở nên dễ dàng hơn khi được trợ giúp bởi công cụ mô phỏng gió ngoài nhà (Flow Design)

ScreenShot_20160927181717

Sự trực quan của việc mô phỏng gió thông qua Flow Design

Thiết kế kiến trúc ngày nay phải gắn liền với các ràng buộc với môi trường và phát triển bền vững và do đó phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu mới. Các công cụ mô phỏng hiệu năng công trình đã mở ra một kỷ nguyên mới trong khoa học thiết kế và đã trở thành công cụ hữu hiệu trong vòng 20 năm trở lại đây. Mô phỏng hiệu năng công trình không phải là một môn học thông thường mà là một ngành học, với nhiều kỹ năng phức tạp và cao cấp, giúp người thiết kế kiểm soát toàn diện tác phẩm của mình.

 

Bước vào kỷ nguyên kết nối (Phần 3)


THUMBNAIL-Globe-37122260_jpegRBGHR-576x300

Kỷ nguyên của kết nối.

Nếu giai đoạn 2007-2015 là thời điểm bùng nổ của BIM trên toàn thế giới thì sau 2016, lại là thời cơ quan trọng hơn bao giờ hết để nắm bắt BIM. Không chỉ là tối ưu hóa, BIM giờ đã trở thành một phương tiện kết nối đắc lực, mang lại sức mạnh to lớn cho ngành công nghiệp thiết kế, xây dựng.
Thứ nhất, quy trình làm việc lấy BIM làm trung tâm của dự án kết nối các nhóm làm việc với nhau và với dữ liệu trong suốt vòng của các dự án. Đây là một trong những vai trò quan trọng của BIM, bởi bản chất của quy trình làm việc này là việc kiểm soát và trao đổi thông tin giữa các bên tham gia, tạo nên sự phối hợp và thống nhất trong các giai đoạn của dự án.
BIM_Illustration
Thứ hai, các đầu ra dựa trên sự trợ giúp của BIM sẽ khởi tạo ra hầu như vô số những thay thế về thiết kế, qua đó BIM kết nối các đầu ra với nhau giúp cho các bên có thể có cái nhìn trực quan và thực hiện hàng loạt các phân tích thông minh nhằm chọn ra được những phương án tối ưu nhất. Phải nói một điều rằng các kết quả này được tạo ra một cách dễ dàng và chính xác dựa trên các công cụ và phần mềm hiện đại như Revit, FormIt, Green Building Studio…
Chính vì vậy kết nối đầu ra ở đây không còn khó khăn trong việc thực hiện như chúng ta thường tưởng tượng. Ngoài ra BIM được dữ liệu định hướng dựa trên số lượng lớn thông tin nhằm giúp cho tòa nhà và cơ sở hạ tầng thích ứng với môi trường một cách nhanh chóng. Những thông tin, dữ liệu xây dựng như sẽ được thu thập và xử lý để phù hợp với từng giai đoạn trong dự án cũng như quy trình làm việc của BIM, từ đó giúp các bên tham gia đưa ra quyết định và giải quyết được các vấn đề có thể xảy ra trong quá trình từ thiết kế xây dựng đến vận hành bảo trì công trình.
bim-article-wordle
Trong BIM, dữ liệu, thông tin chính là chìa khóa của toàn bộ quá trình làm việc, điều quan trọng là chúng ta phải mô hình hóa các thông tin này trở thành những những cái nhìn thấu suốt của chúng ta đối với toàn dự án.
Và cuối cùng và gần như là hiển nhiên, BIM kết nối dự án hay cụ thể hơn các quy trình thiết kế xây dựng được kết nối với nhau thông qua việc trao đổi thông tin và giao tiếp với nhau dựa trên một nền tảng công nghệ thông minh. Dự án từ lúc manh nha lên ý tưởng concept hay đến khi kết thúc một vòng đời của dự án thì đều có sự tham gia và phối hợp giữa các bên liên quan, một quy trình tận dụng tối đa chất xám và sự chia sẻ cũng như hiểu biết lẫn nhau trong công việc.
Đây thực sự là điểm khác biệt của quy trình làm việc lấy BIM làm trung tâm, với nó các rào cản sẽ được giảm xuống tối đa, chi phí cũng được giảm thiểu và chất lượng được nâng cao.
Với sự phát triển công nghệ không ngừng hiện nay với hàng loạt các phát minh phục vụ những nhu cầu tiện ích của con người, ngành công nghiệp xây dựng thiết kế cũng không ngoại lệ với nhiều bước tiến mới trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế như sự ra đời của các phần mềm thông minh, các công cụ đa dụng.
GUID-4FD82059-A65E-4824-9C8D-C8CE939FA3C3
BIM chính là một sự phát triển tất yếu trong sự vận động chung đó và đến nay nó càng chứng tỏ được tầm quan trọng của mình đối với ngành công nghiệp xây dựng trên toàn thế giới. Với những triển vọng có thể nhìn thấy cùng sức mạnh to lớn mà BIM sẽ tạo ra trong tương lai, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào một kỷ nguyên phát triển vừa hiện đại vừa bền vững

Bước vào kỷ nguyên kết nối (Phần 2)


THUMBNAIL-Globe-37122260_jpegRBGHR-576x300

Dẫn đầu qua thay đổi.
Ngành công nghiệp xây dựng của thế giới nói chung cho đến nay đã trải qua rất nhiều thởi kỳ phát triển gắn với sự ra đời của hàng loạt công cụ ngày càng hiện đại và cách tư duy tiến bộ của con người. Trong mỗi thời kỳ, tư duy về công nghệ cũng như cách thức làm việc của con người lại tiến thêm một bậc cùng với đó là những lợi ích và thay đổi mang tính cách mạng mà nó đem lại. Hãy cùng xét lại một chút xem sao!


Thứ nhất, kỷ nguyên của hồ sơ, tài liệu – sự ra đời của AUTOCAD.
AutoCAD ra đời vào năm 1981, là một ứng dụng phần mềm thương mại dành để phác thảo và thiết kế 2D và 3D được máy tính hỗ trợ, ban đầu là một ứng dụng dành cho máy tính để bàn sau đó được phát triển thành một ứng dụng dựa trên nền tảng đám mây và web di động.

AutoCAD được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp, bởi các kiến trúc sư, các nhà quản lý dự án, kỹ sư công trình, nhà thiết kế đồ họa và nhiều chuyên gia khác. Trong một thời gian khá ngắn sau khi ra mắt, AutoCAD được công nhận mạnh mẽ, được coi là một công cụ đắc lực lúc bấy giờ đối với các chuyên gia trên nhiều lĩnh vưc.
rendering-with-autocad-logo-Feature_1290x688_KL
Có thể nói, AutoCAD đã tạo ra một cuộc các mạng trong nhiều ngành nó tham gia, lần đầu tiên chúng ta có thể chia sẻ một cách thực tế nhất bản vẽ thông qua hình học, sơ đồ và văn bản.  Cho đến nay tầm ảnh hưởng của AutoCAD vẫn còn rất mạnh mẽ, theo một thống kê chưa chính thức thì có khoảng 19,3 triệu người sử dụng CAD trên toàn thế giới, đây là một con số đáng mơ ước đối với bất cứ sản phẩm phần mềm nghề nghiệp nào cho đến nay!

Thứ hai, kỷ nguyên của tối ưu hóa – Sự tăng tốc của BIM.
BIM (Building Information Modeling) những năm gần đây đã trở thành một thuật ngữ khá quen thuộc đối với những chuyên gia cũng như những người hoạt động trong ngành xây dựng. Mô hình hóa thông tin xây dựng (BIM) được hiểu là một quy trình làm việc dựa trên mô hình 3D thông minh, trang bị cho các chuyên gia kiến trúc, kỹ thuật công trình và thi công xây dựng cái nhìn sâu sắc cùng những công cụ đắc lực để đem lại lợi ích và hiệu quả trong quá trình lên kế hoạch, thiết kế, thi công đồng thời, quản lý vận hành công trình trong suốt vòng đời của nó.

Nếu nói AutoCAD là một cuộc cách mạng mở ra một kỷ nguyên mới thì BIM chính là một bước nhảy vọt về công nghệ cũng như tư duy. Với những lợi thế to lớn mà nó mang lại, BIM được áp dụng rộng rãi trong ngành xây dựng, đặc biệt là ở các nước phát triển. Có khoảng ¾ số nhà thầu trả lời trong một cuộc khảo sát cho biết họ đã đạt được chỉ số ROI khả quan trong các khoản đầu tư BIM của mình, thời hạn thi công được rút ngắn khoảng 37% và lượng chi phí tiết kiệm được là hơn 30% khi thực hiện BIM vào trong dự án.

Có thể nói thuật ngữ BIM ra đời từ rất sớm, khoảng những năm 70, 80 của thế kỷ trước, nhưng thực sự phổ biến trong ngành thiết kế xây dựng cách đây khoảng 20 năm và cho đến nay nó đã khẳng định được vị trí của mình như một xu thế tất yếu trong sự phát triển chung của toàn ngành. Anh là một đất nước áp dụng BIM vào trong xây dựng mạnh mẽ  khi chưa đến 2012 đã có 93% số chủ đầu tư khuyến khích thậm chí là yêu cầu áp dụng BIM vào trong các dự án mới của họ.

Vậy theo xu hướng phát triển hiện tại trong vòng 5 năm tới đây, BIM không chỉ “thống trị” ngành kiến trúc xây dựng của các quốc gia phát triển mà làn sóng này còn lan sang các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Bằng việc tối ưu hóa quy trình làm việc trong đó đặc biệt là tối ưu hóa thiết kế, BIM đã chứng minh mình trở thành xứng đáng là một bước tiến quan trọng tất yếu trong lịch sử phát triển của ngành xây dựng.
Old-School-Archicture-header

Bước vào kỷ nguyên kết nối (Phần 1)


THUMBNAIL-Globe-37122260_jpegRBGHR-576x300

     Công nghệ đang thay đổi hoàn toàn cách chúng ta thiết kế, xây dựng và sử dụng các công trình xây dựng và cơ sở hạ tầng của chính mình!


Chúng ta đang bị cuốn theo làn sóng của công nghệ kỹ thuật số một cách chớp nhoáng, thậm chí trước khi có thể nhận ra đường đi của nó. Với sự gia tăng một cách chóng mặt của lượng thông tin thuộc mọi lĩnh vực trong cuộc sống, những dữ liệu thông tin trong công việc, trao đổi hàng ngày và thậm chí có thể bạn không nhận mình đang “đối mặt” với chúng như việc lướt Facebook, search một từ khóa tìm kiếm trên google hay nghe nhạc ở một kênh trực tuyến nào đó. Và chính xác chúng ta đang bị “bủa vây”! Hãy thử tưởng tượng lượng thông tin của 10 năm về trước, hiện nay và 10 năm tiếp theo, đó sẽ là cấp số nhân lũy tiến! Từ nay cho đến năm 2020, tập dữ liệu trên thế giới sẽ tăng khoảng 50 lần qua từng năm. Các nghiên cứu đã đưa ra dự đoán rằng sẽ có hơn 50% công nghệ thông tin sẽ chuyển sang nên tảng đám mây trong thập kỷ này để thuận lợi cho việc quản lý và sử dụng chúng.

Điều gì đang diễn ra, thứ gì đang thay đổi xung quanh chúng ta vậy?
Câu trả lời là: Tất cả mọi thứ!
Từ khi có hàng loạt những phát minh về công cụ công nghệ ra đời và sự bùng nổ công nghệ thông tin trên toàn thế giới, khoảng cách giữa con người, giữa các quốc gia đã không còn đáng kể, khái niệm “thế giới phẳng” càng trở nên sâu sắc và ảnh hưởng mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống dân cư toàn cầu.
1. Phương tiện sản xuất
- Về tri thức.
    Các thành phố, các công ty, các tập đoàn lớn trên thế giới hiện nay đang áp dụng thành công một hình thái dựa trên nền tảng nguồn lực mới có tên là sử dụng ưu thế đám đông – crowd-sourcing. Mô hình thông minh và khá linh hoạt này giúp các chủ thể khai thác ý tưởng, sức mạnh trí tuệ từ đám đông, giúp giảm chi phí và tăng giá trị công việc.
Một khía cạnh khác trong về mặt tri thức hiện nay là việc quản lý và sử dụng dữ liệu. Bạn có nghĩ là với các phương tiện công nghệ hiện đại, chúng ta đang tận dụng hết tài nguyên dữ liệu chứ? Một sự thật được đưa ra sau một nghiên cứu gần đây là chỉ có 12% trong tổng số dữ liệu trong các dự án hiện nay được phân tích thực sự. Vậy số còn lại đã đi đâu, chúng ta đã có thể làm gì với chúng, và quan trọng hơn là trong tương lai gần chúng ta sẽ phải xử lý ra sao với sự bùng nổ dữ liệu, liệu có còn sự lãng phí tài nguyên vì thiếu khả năng tận dụng? Điều cần phải đặt ra là trong kỷ nguyên kết nối, chúng ta cần cái nhìn sâu sắc về những dữ liệu định hướng từ con số 88% kia và còn nhiều hơn nữa.

shutterstockdata_management2- Về mặt kỹ thuật.
Một trong số những xu hướng phát triển đầy hứa hẹn những năm gần đây trong ngành công nghiệp xây dựng có lẽ phải kể đến công nghệ in 3D. Có thể nói đây là một ngành mang lại nhiều lợi nhuận dành cho các nhà đầu tư bởi lợi ích đa dạng cũng như  mà nó đem lại. Theo dự báo của các nhà kinh tế thì lợi nhuận hàng năm từ ngành công nghệ in 3D sẽ tăng một cách nhanh chóng trong những thập niên tiếp theo, con số này của năm 2013 xấp xỉ 3,07 tỷ $ và con số triển vọng đến 2020 là hơn 21 tỷ khi mà nó được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Máy in sẽ là dòng sản phảm tiêu dùng chính và chính nó làm ra những bất cứ thứ gì từ bất cứ vật liệu gì mình mong muốn!
nA_MMNY_Render-Construction
Bên cạnh đó, một phương tiện đang đóng góp tích cực vào trong nền sản xuất hiện đại phải kể đến là công nghệ chế tạo sẵn và module hóa. Đây là hai trong số những bước tiến quan trọng trong xây dựng hiện nay khi nó đang và sẽ cải thiện năng suất toàn ngành. Theo thống kê của ác chuyên gia thế giới, nhờ sử dụng công nghệ tiên tiến này mà tiến độ dự án sẽ giảm khoảng 66%, ngân sách tiết kiệm khoảng 65%,  lãng phí công trường xây dựng giảm xuống đến 77%. Đây là những con số vô cùng ấn tượng mà bất cứ chủ đầu tư và nhà thầu dự án nào cũng đều mong muốn hướng tới để tối ưu hóa những lợi ích của mình trong các dự án.

Theo Autodesk.

Tìm hiểu về chiếu sáng và các chỉ số cần biết về ánh sáng trong Kiến trúc.


Ánh sáng là vẻ đẹp của Kiến trúc và Chiếu sáng là khía cạnh quan trọng trong Kiến trúc.
Kiến trúc sư nổi tiếng về ánh sáng Louis Kahn từng nói: “A room is not a room without nataral light”.
louis kahn

Do đó, là những người Kiến trúc sư chuyên nghiệp, nắm bắt được ánh sáng là yếu tố quan trọng để có thiết kế công trình đẹp trong thẩm mỹ và hiệu quả trong tính bền vững. Tiếp tục đọc

Chia sẻ bộ thư viện Revit Family 2016


ANABIM xin chia sẻ tới cộng đồng người dùng Revit bộ thư viện Revit Family 2016.

Libray Revit Family

Libray Revit Family

File do ANABIM sưu tầm trong thời gian làm dự án trong và ngoài nước có được.
Các bạn có thể download bản 2016 tại đây và bản 2014 tại đây
Để tiến hành lưu trữ file Family thành các file riêng biệt vào máy tính, các bạn xem video sau đây:


Chúng tôi sẽ liên tục cập nhật các bộ Family thư viện dành cho cộng đồng.
Theo dõi Facebook fanpage Cộng đồng Revit hoặc BIM để cập nhật các thông tin mới nhất về Revit và BIM.